Biên soạn
Đội thu mua Phế Liệu Thành Long
Khảo sát, phân loại và thu mua phế liệu tại hiện trường
Kiểm duyệt chuyên môn
Lê Quang Hoà
Chủ công ty thu mua phế liệu Thành Long

Cách tính khối lượng thép hình giúp doanh nghiệp ước lượng trước lượng sắt thép phế liệu trong khung nhà xưởng, kho, sàn thao tác hoặc dây chuyền cần tháo dỡ. Khi chưa thể đưa toàn bộ kết cấu lên cân, số kg/m của từng quy cách kết hợp với chiều dài và số lượng là cơ sở thực tế để lập bảng kê, dự trù xe, thiết bị nâng và kiểm tra báo giá.
Phương pháp chính xác nhất là xác định đúng ký hiệu tiết diện rồi tra bảng khối lượng của tiêu chuẩn hoặc nhà sản xuất. Công thức hình học chỉ nên dùng để ước tính khi không còn hồ sơ, vì thép cán nóng có bán kính lượn, độ dốc cánh và dung sai mà phép tính hình chữ nhật đơn giản không phản ánh đầy đủ.
Cách tính khối lượng thép hình trước khi thanh lý có tác dụng gì?
Kết cấu thép thường được bán theo khối lượng, nhưng quá trình cân chỉ thực hiện thuận lợi sau khi tháo và đưa hàng lên xe. Trước thời điểm đó, doanh nghiệp vẫn cần một con số đủ tin cậy để so sánh phương án bán, bố trí nhân lực và xác định tải trọng vận chuyển.
Bảng khối lượng sơ bộ còn giúp phát hiện chênh lệch. Nếu hồ sơ cho thấy kết cấu khoảng 20 tấn nhưng số cân thực tế thấp hơn nhiều, cần kiểm tra phần vật tư đã tháo trước, chiều dài bị thiếu, cấu kiện còn nằm tại công trình hoặc cách trừ bì. Ngược lại, số cân cao bất thường có thể do còn bê tông, gỗ, tôn, nước hoặc thiết bị gắn trên khung.
Trọng lượng thép hình cũng ảnh hưởng chi phí cắt, cẩu và bốc xếp. Thanh H hoặc I dài, nặng cần phương án khác với xà gồ mỏng, tôn hoặc thép V nhỏ, dù tổng khối lượng của hai lô có thể tương đương.
Ba dữ liệu tối thiểu cần có
Quy cách tiết diện: loại I, H, U, V; chiều cao, chiều rộng cánh, chiều dày bụng và chiều dày cánh.
Khối lượng trên một mét: lấy từ bảng tiêu chuẩn, catalogue nhà sản xuất hoặc tính gần đúng từ diện tích tiết diện.
Chiều dài và số lượng: đo chiều dài thực tế của từng nhóm, không mặc định tất cả thanh đều còn nguyên 6 m hoặc 12 m.
Nếu còn bản vẽ hoàn công, bảng thống kê vật tư hoặc phiếu xuất kho, nên dùng chúng để lập danh sách ban đầu rồi kiểm tra xác suất ngoài hiện trường. Với công trình cũ không còn hồ sơ, cần đo từng nhóm và chụp rõ mặt cắt.
Công thức chung tính khối lượng thép
Khối lượng của một vật thể bằng thể tích nhân với khối lượng riêng. Khi kích thước tiết diện tính bằng milimet và chiều dài tính bằng mét, có thể dùng hệ số quy đổi thuận tiện cho thép carbon:
Khối lượng một mét (kg/m) ≈ diện tích tiết diện (mm²) × 0,00785.
Tổng khối lượng (kg) = khối lượng một mét (kg/m) × chiều dài mỗi thanh (m) × số lượng.
Hệ số 0,00785 tương ứng với khối lượng riêng quy ước khoảng 7.850 kg/m³. Đây là giá trị dùng để ước tính. Mác thép, lớp mạ, dung sai cán và tình trạng bề mặt có thể làm khối lượng thực tế chênh nhẹ.
Đối với thép hình tiêu chuẩn, nên ưu tiên thông số kg/m đã công bố. ISO 657-1:2026 quy định kích thước, đặc trưng tiết diện và dung sai cho thép góc L, thép U cánh nghiêng và thép I cánh nghiêng. AISC cũng cung cấp cơ sở dữ liệu kích thước và đặc tính của các tiết diện thép kết cấu theo hệ Mỹ.
Cách xác định đúng quy cách thép hình

Đọc ký hiệu trên bản vẽ và hồ sơ
Ký hiệu có thể thể hiện họ tiết diện và kích thước, chẳng hạn H200 × 200 × 8 × 12. Cách ghi này thường được hiểu là chiều cao 200 mm, chiều rộng cánh 200 mm, chiều dày bụng 8 mm và chiều dày cánh 12 mm. Tuy nhiên phải đối chiếu tiêu chuẩn hoặc catalogue vì cùng kích thước danh nghĩa có thể có biến thể khối lượng khác.
Đo trực tiếp tại công trình
Dùng thước thép và thước cặp để đo chiều cao tổng, chiều rộng cánh, chiều dày bụng và cánh. Nên làm sạch một vị trí nhỏ trước khi đo để lớp gỉ, sơn hoặc bụi không làm sai kết quả. Đo nhiều vị trí nếu cấu kiện bị ăn mòn.
Không nhận dạng chỉ bằng chiều cao
Tên gọi “H200”, “I200” hoặc “U100” chưa đủ để kết luận kg/m. Cần biết đầy đủ họ tiết diện và các chiều dày. Một dầm cao 200 mm nhưng cánh rộng hoặc dày hơn sẽ nặng hơn đáng kể.
Khối lượng thép I được tính như thế nào?
Thép I gồm hai cánh và một bụng đứng. Nếu bỏ qua bán kính lượn giữa bụng với cánh, diện tích tiết diện gần đúng là:
A ≈ 2 × b × tf + (h − 2 × tf) × tw.
Trong đó h là chiều cao tổng, b là chiều rộng cánh, tf là chiều dày cánh và tw là chiều dày bụng; tất cả dùng đơn vị mm. Sau khi có A, nhân với 0,00785 để ra khối lượng thép I gần đúng theo kg/m.
Ví dụ tính dầm I giả định
Một tiết diện có h = 200 mm, b = 100 mm, tw = 5,5 mm và tf = 8 mm. Diện tích gần đúng bằng 2 × 100 × 8 + (200 − 16) × 5,5 = 2.612 mm². Khối lượng gần đúng một mét bằng 2.612 × 0,00785, khoảng 20,5 kg/m.
Nếu có 12 thanh dài trung bình 6 m, tổng khối lượng ước tính bằng 20,5 × 6 × 12, khoảng 1.476 kg. Kết quả phải được đối chiếu với bảng của đúng quy cách vì công thức chưa tính phần lượn và dung sai.
Khối lượng thép H được tính như thế nào?
Thép H cũng gồm hai cánh và một bụng, nhưng cánh thường rộng hơn so với nhiều dòng thép I. Công thức hình học gần đúng vẫn là 2 × b × tf + (h − 2tf) × tw. Sự khác biệt nằm ở kích thước thực tế của tiết diện, không phải chỉ ở tên chữ I hay H.
Ví dụ H200 × 200 × 8 × 12
Diện tích chữ nhật gần đúng bằng 2 × 200 × 12 + (200 − 24) × 8 = 6.208 mm². Khối lượng thép H gần đúng bằng 6.208 × 0,00785, khoảng 48,7 kg/m.
Một thanh dài 12 m theo phép tính này nặng khoảng 584 kg. Mười thanh tương đương khoảng 5,84 tấn. Đây là số kiểm kê sơ bộ; giá trị catalogue có thể cao hơn do bán kính lượn và hình dạng cán thực tế.
Khi thanh lý dầm H đã lắp dựng, cần cộng riêng bản mã, sườn tăng cứng và chi tiết hàn nếu chúng không nằm trong kg/m của tiết diện gốc. Bu lông, bê tông bám và thiết bị treo cũng phải kiểm tra riêng.

Khối lượng thép U và thép C có giống nhau không?
Không nên mặc định giống nhau. Thép U cán nóng có bụng và hai cánh, có thể có cánh song song hoặc cánh nghiêng. Xà gồ C thường được tạo hình nguội từ thép tấm mỏng, có thể có mép gấp. Hai sản phẩm cùng chiều cao danh nghĩa nhưng hình học và chiều dày khác nhau.
Khối lượng thép U có thể ước tính bằng diện tích các phần chữ nhật, nhưng bán kính lượn và độ dốc cánh làm kết quả khác bảng chuẩn. Cách an toàn là xác định UPN, UPE hoặc hệ quy cách tương ứng rồi tra kg/m.
Đối với xà gồ C thành mỏng, có thể tính theo diện tích tấm triển khai nhân chiều dày, nhưng cần biết đầy đủ chiều rộng bụng, hai cánh và hai mép gấp. Website đã có bài thép hình C là gì giải thích riêng cấu tạo và cách đọc quy cách của nhóm này.
Ví dụ kiểm kê thép U
Giả sử catalogue của đúng mã U cho biết khối lượng 18,8 kg/m. Có 20 thanh dài 6 m thì tổng khối lượng bằng 18,8 × 6 × 20 = 2.256 kg. Dùng kg/m từ catalogue giúp tránh sai số do cánh nghiêng và phần lượn.

Khối lượng thép V được tính như thế nào?
Thép V hay thép góc L có hai cạnh vuông góc. Với thép V đều cạnh, bỏ qua bán kính lượn, diện tích gần đúng là:
A ≈ t × (a + b − t).
Trong đó a và b là chiều rộng hai cạnh, t là chiều dày. Đối với V đều cạnh thì a = b. Khối lượng thép V gần đúng theo kg/m bằng A × 0,00785.
Ví dụ V50 × 50 × 5
Diện tích gần đúng bằng 5 × (50 + 50 − 5) = 475 mm². Khối lượng một mét bằng 475 × 0,00785, khoảng 3,73 kg/m. Nếu có 50 thanh dài 6 m, tổng khối lượng gần đúng là 3,73 × 6 × 50, khoảng 1.119 kg.
Giá trị trong bảng tiêu chuẩn có thể khác nhẹ vì góc trong không vuông tuyệt đối và có bán kính lượn. Với lô lớn, chênh lệch nhỏ trên mỗi mét có thể trở thành vài trăm kilogram nên vẫn cần tra đúng bảng.
Bảng công thức nhanh cho các dạng thép phổ biến
Dạng vật liệu | Công thức gần đúng | Đơn vị kết quả |
|---|---|---|
Thép hình I, H | [2btf + (h − 2tf)tw] × 0,00785 | kg/m |
Thép góc V | t(a + b − t) × 0,00785 | kg/m |
Thép tấm | Dài(m) × rộng(m) × dày(mm) × 7,85 | kg/tấm |
Thép tròn đặc | d² × 0,006165 | kg/m |
Thép vuông đặc | a² × 0,00785 | kg/m |
Thép hộp chữ nhật | [BH − (B−2t)(H−2t)] × 0,00785 | kg/m |
Ống tròn | 0,02466 × t × (D − t) | kg/m |
Các kích thước d, a, B, H, D và t trong bảng dùng đơn vị mm, trừ khi công thức đã ghi rõ mét. Công thức ống và hộp là gần đúng, chưa tính bán kính góc, đường hàn, lớp mạ và dung sai.
Cách lập bảng kiểm kê sắt thép phế liệu
Một bảng kê hữu ích không cần phức tạp nhưng phải tách theo đúng quy cách. Có thể dùng các cột: nhóm thép, kích thước, kg/m, chiều dài, số lượng, khối lượng tính toán, tình trạng và ghi chú tháo dỡ.
Chia khu vực công trình thành khung chính, dầm phụ, giằng, sàn và kết cấu phụ.
Ghi từng loại I, H, U, V, thép tấm, ống và hộp thành nhóm riêng.
Đo tối thiểu một số cấu kiện đại diện trong mỗi nhóm.
Tra đúng kg/m theo ký hiệu hoặc tính gần đúng nếu không có bảng.
Nhân với chiều dài thực tế và số lượng còn tồn tại.
Cộng riêng bản mã, sườn, lan can, bulông và vật liệu phụ.
Đánh dấu phần còn bê tông, gỗ, tôn, dây điện hoặc thiết bị gắn kèm.
So sánh tổng ước tính với hồ sơ đầu tư và số cân sau tháo dỡ.
Không nên cộng toàn bộ nhà xưởng theo một hệ số kg/m² nếu mục tiêu là kiểm tra giá trị thanh lý. Hệ số diện tích có thể hữu ích ở giai đoạn dự toán rất sớm, nhưng không phản ánh được kết cấu cụ thể, phần cải tạo hoặc vật tư đã mất.

Vì sao khối lượng tính toán và số cân thực tế chênh nhau?
Tiết diện thực tế khác mã được giả định.
Chiều dài thanh đã bị cắt ngắn hoặc nối thêm.
Bản mã, sườn tăng cứng và mối nối chưa được cộng.
Cấu kiện bị ăn mòn, thủng hoặc mất một phần tiết diện.
Thép còn bám bê tông, đất, nước, dầu hoặc vật liệu khác.
Khối lượng catalogue có dung sai so với sản phẩm thực tế.
Danh sách đếm trùng hoặc bỏ sót cấu kiện khuất.
Cân cả xe, pallet hoặc thiết bị chứa nhưng trừ bì chưa đúng.
Gỉ bề mặt mỏng không nên được quy đổi thành một tỷ lệ giảm cố định bằng mắt. Nếu cấu kiện ăn mòn nặng, nên đo chiều dày còn lại ở nhiều vị trí hoặc cân thực tế sau tháo dỡ.
Khối lượng ước tính được dùng để báo giá thế nào?
Giá trị sơ bộ thường được hiểu theo công thức: khối lượng tịnh ước tính × đơn giá của đúng nhóm sắt thép, sau đó xem xét chi phí và điều kiện thực hiện. Thép hình dày, sạch và phân loại rõ có thể được đánh giá khác tôn mỏng, sắt vụn, gang hoặc cụm máy còn nhiều tạp chất.
Đối với kết cấu còn lắp dựng, tổng giá trị còn liên quan phương án tháo, cắt, cẩu, mặt bằng xe vào, độ cao làm việc và yêu cầu bàn giao. Không nên chỉ so sánh đơn giá mỗi kilogram mà bỏ qua phạm vi công việc.
Doanh nghiệp có thể gửi bảng kê, bản vẽ và ảnh hiện trường cho đơn vị thu mua sắt thép phế liệu. Báo giá qua hồ sơ là mức sơ bộ; số liệu cuối cùng cần xác nhận bằng khảo sát và cân thực tế.
Cần chụp những ảnh nào để kiểm tra khối lượng?
Ảnh toàn cảnh từng khu vực kết cấu.
Ảnh mặt cắt đầu dầm I, H, U hoặc V.
Ảnh thước đo chiều cao, chiều rộng và chiều dày.
Ảnh ký hiệu trên thép hoặc hồ sơ vật tư.
Ảnh bản mã, sườn tăng cứng và chi tiết hàn.
Ảnh phần thép còn bám bê tông hoặc thiết bị.
Ảnh lối xe, chiều cao làm việc và vị trí đặt cẩu.
Ảnh đo cần đặt thước vuông góc và chụp đủ rõ để đọc kích thước. Không dùng ảnh phối cảnh xa để suy ra chiều dày bụng hoặc cánh.
Câu hỏi thường gặp
Chỉ biết tên H200 có tính được khối lượng không?
Chưa đủ. Cần chiều rộng cánh, chiều dày bụng, chiều dày cánh hoặc mã đầy đủ trong catalogue. Nhiều tiết diện có cùng chiều cao danh nghĩa nhưng kg/m khác nhau.
Nên dùng công thức hay bảng kg/m?
Nên dùng bảng của đúng tiêu chuẩn hoặc nhà sản xuất. Công thức hình học phù hợp để kiểm tra gần đúng khi không còn hồ sơ.
Có cần trừ phần gỉ khỏi khối lượng không?
Không nên tự áp phần trăm bằng mắt. Gỉ nhẹ đã phản ánh trong số cân. Ăn mòn nặng cần đo tiết diện còn lại hoặc cân thực tế sau tháo dỡ.
Khối lượng bulông có nằm trong kg/m của dầm không?
Không. Kg/m của tiết diện chỉ phản ánh bản thân thanh thép. Bulông, bản mã, sườn và phụ kiện phải được cộng riêng nếu chúng thuộc lô bán.
Thép mạ kẽm tính theo khối lượng riêng nào?
Có thể dùng khối lượng công bố của sản phẩm. Lớp mạ làm tăng khối lượng nhưng thường không nên tự cộng bằng một tỷ lệ chung nếu không có thông số lớp phủ.
Có thể dùng số liệu bản vẽ thay cho cân không?
Bản vẽ phù hợp để lập dự toán và kiểm tra. Giao dịch cuối cùng vẫn nên dựa trên khối lượng cân hoặc phương pháp được hai bên thống nhất rõ trong hợp đồng.
Kết luận
Cách tính khối lượng thép hình đáng tin cậy nhất là xác định đúng tiết diện, lấy kg/m từ bảng tiêu chuẩn rồi nhân với chiều dài và số lượng. Công thức hình học giúp ước tính khối lượng thép I, H, U và V khi thiếu hồ sơ, nhưng phải ghi rõ đây là kết quả gần đúng.
Trước khi thanh lý, hãy lập bảng kê theo từng quy cách, cộng riêng bản mã và phụ kiện, ghi nhận phần tạp chất và đối chiếu bằng số cân thực tế. Cách làm này giúp doanh nghiệp kiểm soát sản lượng, lựa chọn phương tiện phù hợp và giảm tranh luận khi chốt giá sắt thép phế liệu.
Nguồn tham khảo
ISO 657-1:2026 – Hot-rolled steel sections: kích thước, đặc trưng tiết diện và dung sai của thép L, U và I cánh nghiêng.
AISC Shapes Database v16.0: cơ sở dữ liệu kích thước và đặc tính tiết diện thép kết cấu.
ArcelorMittal – European I sections: hệ tiết diện IPE, IPN và tiêu chuẩn kích thước tương ứng.
Dịch vụ liên quan đến nội dung này
Xem thông tin khảo sát, định giá và phương án thu gom dành cho đúng nhóm hàng.









